Ông Phan Du (ông Xã Giản-4/13) viết Phổ hệ Phan tộc vào năm 1971. Nay tôi viết lại bằng vi tính để phổ biến trên trang mạng của tộc.
廣 南 省 Quảng Nam tỉnh
奠 盤 府 Điện Bàn phủ
多 和 總 Đa Hòa tổng
保 安 社 Bảo An xã
潘Phan
大 đại
族 tộc
譜 phổ
系 hệ
PHỔ HỆ HỌ PHAN CẢ
Cây có cội, nước có nguồn, người có tôn tổ, nhánh sông chi chít, đều do nguồn gốc phát sinh, con cháu sình ra trong một gia tộc, đời đời kế tiếp, đều mang chung một dòng máu, thì cũng có sự liên hệ, di truyền về thể chất cũng như tinh thần, đo đó, ta cũng phải biết rõ nguồn gốc của mình, trước để ghi ơn ông bà ngày xưa đã có công gầy dựng ra gia tộc, đã có công lao khó nhọc kiến tạo cơ đồ để cho con cháu đời này, qua đời khác thừa hưởng, sau để rõ mối liên hệ giữa bà con cô bác trong một gia tộc do một ông bà sinh ra.
Phái nào con cháu cũng đông đúc, tản mác tứ phương, có khi cả đời không họp mặt, gặp nhau không biết, không rõ thứ lớp như thế nào, xưng hô lộn xộn, lạt lẻo dửng dưng, thật là đáng tiếc, vì thế, kẻ ra công, người góp vào trùng tu bản phổ hệ này căn cứ trên tài liệu lưu truyền và bổ túc thêm, cho đầy đủ, nhằm mục đích thắt chặc tình gia tộc nghĩa tương thân.
Gốc tích gia tộc ta
Căn cứ vào tài liệu di lưu, thì gốc tích ông bà chúng ta ở làng Ao Giản, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An. Chúng ta chỉ được biết: từ Ngài Đa Lôi sinh Ngài Đa Lư, Ngài Đa Lư sinh Ngài Nhơn Huyện là Ngài Sơ tổ chúng ta, Ngài Sơ tổ chúng ta đã cùng Ngài Tiền hiền Nguyễn Liệt (tổ họ Nguyễn) và Ngài Tiền hiền Ngô Bồ (tổ họ Ngô) đều có chí khai hoang lập xã, ba Ngài kết bạn tâm giao. mang vợ con vào nam, sáng lập ấp Hòa Đa gần làng La Nang, phía bắc sông Thu Bồn. Sau một thời gian, cư trú tại đấy, nhận thấy đất xấu, nước lại không tốt, không đúng với ý nguyện, tác lập một cơ đồ vĩnh viễn, để lại cho con cháy ngày sau; ba Ngài bèn ủy thác người canh thủ, và đã vượt sông qua phía nam, tìm được một nơi hoang nhàn rộng rãi, đất đai phì nhiêu, cỏ cây tú mậu, liền mang vợ con đến cư trú, đồng tâm hiệp lực, ngày thì khai phá, tối ngủ trên cây, công lao khó nhọc, không sao kể xiết.
Nhưng chưa được bao lâu, thì chẳng may đất nước loạn ly, nhân dân phân tán, Ngài Nhơn Huyện mới bảo con là Ngài Nhơn Bàn nên về lại cố hương để lánh nạn. Vâng lời của thân phụ, Ngài Nhơn Bàn về đến cố hương, thì bà con cũng bị cảnh ly loạn tản mác điêu tàn. Trong hoàn cảnh tứ cố vô thân, nên Ngài phải xin làm con nuôi một gia đình, rồi kết duyên cùng bà Dương thị người Quảng Nam. Sau khi lập gia đình xong, ông bà cùng nhau trở vào nam, khi vào thì thân phụ đã qua đời, chỉ còn thân mẫu. Trong khi hàn huyên, bà thuật lại thân phụ vì lánh nạn mạng chung tại ấp Bác Nhị, mai táng tại đấy, nhưng không biết đích xác nơi phần mộ. Ngài Nhơn Bàn bèn mời thầy soi môi tìm cốt và đã nhận thấy nơi ống chân có tật, nên biết quả là di hài của thân phụ, bèn khâm liệm đem về làng chôn tại xứ Cồn Nại hạ. Người ta nhìn thấy nơi ,ai táng có ong về làm tổ, nên đều nghĩ rằng đó là điềm con cháu ngày sau đông đúc.
Tống táng thân phụ xong, Ngài lo nối chí thân sinh, cùng hai Ngài Nguyễn, Ngô tiếp tục khai khẩn đất đai, lập thành xã Phi Phú gồm cả ấp Hòa Đa và sau đổi tên xã Phi Phú là Phú An. Vậy Ngài Nhơn Bàn là thỉ tổ tộc Phan chúng ta (người tức Tiền hiền tộc Phan) kể là đời thứ nhất. Đến đời Tây Sơn tu bộ chia Phú An thành hai ấp. Đến đời Minh Mạng thứ 17 đổi ra Bảo An đông tây hai xã.
Khi lập xã xong, Ngài thỉ tổ chúng ta xuất sĩ làm quan đến chức Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ Địch nghĩa bá.
Ngài sinh hạ được 7 trai 3 gái đều được quý hiển, trong ấy 2 Ngài chết còn lại 5 Ngài là thỉ tổ của 5 phái, chúng ta là con cháu của Ngài.
Tộc Phan cả chúng ta, kể từ Ngài Thỉ tổ đến bây giờ, con cháu đông đúc, làm ăn phát đạt, nhiều người học hành thông minh, đại khoa đại hoạn và cũng nhiều nhân tài, nêu cao tinh thần ái quốc, tranh đấu cho nền độc lập nước nhà, xưa cũng như nay vậy.
Hiện nay vì nạn chiến tranh hủ họai nên chúng ta tìm sao bản Phổ hệ này, lục theo thứ tự thế thứ kể từ Ngài Thỉ tổ đến bây giờ được 17 đời và ghi chép Phổ hệ thành tập, để cho con cháu trong gia tộc, ngỏ hầu hiểu rõ gốc tích.
Đà Nẵng ngày thanh minh mồng mười,
tháng ba, năm Tân hợi
tức 5-4-1971
Cháu 13 đời thân hào Phan Du phụng tả
Thực hiện: Phan Bá Lương (2/16)